Cuộc thương khó của Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca

CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

THEO THÁNH LUCA

(22,1-23,56)

 

 

Hãy thử tưởng tượng bạn là một người có chút hiểu biết sống trong đế quốc Rôma khi đọc tường thuật của thánh sử Luca về sự hạ sinh, cuộc đời, hoạt động và giáo huấn của Chúa Giêsu Nadarét, và cuối cùng hỏi thánh nhân: “Nếu tất cả những gì ngài viết là đúng về con người này, về hành vi và lời dạy của người đàn ông tốt lành này tự xưng là cứu thế của vị thần của mình, làm thế nào để ngài giải thích cái chết của ông ta như một tên tội phạm bị chính quyền Rôma địa phương lên án và đóng đinh?” Chúng ta có thể coi Luca đặt mình vào nhiệm vụ trả lời câu hỏi này khi ngài viết cho Dân ngoại phần kết thúc Tin mừng của ngài, trong đó Luca mô tả việc bắt giữ, kết án và xử tử vị Thầy chí thánh đã sống và thực thi trọn vẹn sứ vụ của mình đối với Chúa Cha. Trình thuật Thương Khó của Thánh Luca là bài đọc trong Chúa nhật cuối cùng của Mùa Chay, được gọi là Chúa nhật Lễ Lá và là khởi đầu của Tuần Thánh, trong đó chúng ta được mời gọi suy niệm và cầu nguyện về cái chết đau thương mà Chúa chúng ta đã đón nhận .

 

Mỗi trong bốn sách Tin mừng đều có một phần kết thúc dành cho việc mô tả cuộc bắt giữ, xét xử và đóng đinh Chúa Giêsu tại Giêrusalem, trong đó tất cả đều theo cùng một cấu trúc và tiến trình, chỉ khác nhau ở một số chi tiết nhỏ. Trên thực tế, người ta cho rằng tất cả các sách Tin mừng chỉ bắt đầu như là những câu chuyện kể lại cuộc Khổ Nạn và Cái Chết của Chúa Giêsu, nhưng sau đó được viết ra vì lợi ích của những nhà thuyết giáo và người trưởng thành muốn trở lại với Kitô giáo. Rồi dần dần những câu chuyện này được mở rộng bằng cách thêm vào những phần trình bày giáo huấn và hoạt động sứ vụ, rồi tiến trình dẫn đến cái chết của Người. Tất cả các tác giả Tin mừng bắt đầu cuộc Khổ Nạn của mình bằng cách thuật lại cuộc khải hoàn cuối cùng của Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem theo những gì chúng ta gọi là Chúa nhật Lễ Lá (x. 19,28-38; Mt 21,1-11; Mc 11,1-10; Ga 12,12-19).

 

Từ Vinh Quang Đến Bi Kịch

Đối với Luca, việc vào Giêrusalem này là đỉnh cao sứ vụ của Chúa Giêsu đối với Israel (Lc 9,51). Chính tại đây mà Người cảm thấy, giống như các tiên tri thời trước, được kêu gọi để đối đầu với các nhà lãnh đạo tôn giáo của dân tộc mình, để kêu gọi họ trở về nẻo chính đường ngay và trung thành gắn bó với Thiên Chúa của cha ông họ, và Người đã chấp nhận cái chết trong nỗ lực đó (13,33). Chính từ Giêrusalem mà Luca trong phần tiếp theo của mình, sách Công vụ Tông đồ, sẽ mô tả công cuộc truyền bá Kitô giáo trên khắp vùng Địa Trung Hải. Trước tiên là Tin mừng Marcô rồi nối tiếp các Tin mừng khác đều mô tả cuộc rước khải hoàn của Chúa Giêsu với các môn đệ và đông đảo dân chúng từ Bêtania tiến vào Giêrusalem, có nhiều người trải áo choàng và cành cây trên mặt đất trước mặt Người. Marcô mô tả đám đông hoan nghênh Chúa, “Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đavít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!” (Mc 11,1, 7-10). Matthêu cũng tái hiện cảnh này: “Hoan hô Con vua Đavít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! (Tv 118: 26) Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21,8-9). Matthêu không nói gì đến vương quốc Đavít. Còn Luca thì cho đám đông các môn đệ và quần chúng lớn tiếng tung hô Chúa Giêsu là vua, thay đổi Thánh vịnh 118, 26 từ câu“Phúc cho Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa!” thành câu “Chúc tụng Đức Vua, Đấng ngự đến nhân danh Chúa!” (Lc 19,38). Trong khi Gioan, có lẽ được viết cuối cùng, lại cho chúng ta biết rằng một đám đông lớn đã lấy cành thiên tuế (giúp chúng ta biết nguồn gốc của tên gọi Chúa Nhật Lễ Lá- Palm Sunday), để tung hô Chúa Giêsu, họ reo vang: “Hoan hô! Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa ! Chúc tụng vua Israel !” (Ga 12,12-13).

 

Bức tranh hiện lên là một đám đông những người hành hương lễ Vượt Qua trong thái độ  cuồng nhiệt tiến vào thành phố thủ đô cùng với nhà tiên tri nổi tiếng của Nadarét miền Galilê. Theo Luca, Chúa Giêsu được công nhận là một vị vua vì tất cả “hành động đầy quyền năng” của Người (19,37). Người được một đám đông nhiệt liệt hoan hô bằng những lời tụng ca reo hò, nhưng chẳng mấy chốc họ sẽ sớm bị các nhà lãnh đạo tôn giáo điều khiển để tất cả biến thành tiếng khóc và lời hô hoán đóng đinh Chúa. Điều này hợp với mối quan tâm của Luca, thường ghi lại sự thù địch xuất phát từ những người Pharisêu mà Chúa Giêsu từng phản đối họ. Ngay lúc này đây họ yêu cầu Chúa Giêsu ra lệnh cho các môn đệ của mình dừng lại (Lc 19,39). Những người Pharisêu này muốn nhắc nhở Chúa về hoàn cảnh chính trị của một lãnh thổ đang bị Rôma chiếm đóng, nếu người dân tung hô Chúa Giêsu là vua của họ thì đó là một điều bất lợi. Nhưng Người không ngăn các môn đệ của mình  và nói rằng Người không thể làm vậy (19,40); và tất cả tiến đi trong cuộc rước ồn ào náo nhiệt cho đến khi Giêrusalem xuất hiện. Khi nhìn thấy thành Chúa Giêsu đã bật khóc, vì Người nhận ra rằng nó không đón nhận Người (Lc 13,34), số phận của nó sẽ trở nên bi thảm vì một ngày kia nó sẽ bị người Rôma hủy diệt (Lc 19,41-44). Chỉ một mình Luca ghi lại cho chúng ta biết chi tiết về việc Chúa Giêsu khóc thương thành, trong mối quan tâm của ngài muốn nhấn mạnh đến bản tính nhân loại của Chúa Giêsu. Và cũng sau đó chỉ một mình ngài nói đến sự cảm thương Chúa dành cho “các phụ nữ thành Giêrusalem”, những người đã khóc thương Chúa trên đường Người đến Calvê (23,27-31).

 

Đối với Luca, hành động đầu tiên của Chúa Giêsu khi đến Giêrusalem là tiến vào đền thờ, mà từ khi còn trẻ, Người đã gọi là “nhà của Cha tôi” (2,49). Người như muốn cố giành lại nó từ những người buôn bán tham lam bất kính, buộc họ phải rời khỏi đền thờ. Người mạnh mẽ lên án họ vì họ đã biến nhà cầu nguyện của Chúa thành một khu chợ ồn ào dơ bẩn (19,45-46). Trong vài ngày tiếp theo trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu đã giảng dạy trong đền thờ (20,1-21, 38), Người làm say mê một đám đông thính giả dậy sớm mỗi sáng để lắng nghe Người (21,38). Và cảnh tượng này đã làm cho các thượng tế, các kinh sư và các thân hào trong dân hoang mang lo lắng, tìm cách loại bỏ kẻ gây rối nguy hiểm này nhưng không biết phải làm cách nào vì toàn dân vẫn chăm chú say mê nghe Chúa giảng (19,47-48; 22,2).

 

Tuy nhiên, khi lễ Vượt Qua đến gần, Luca một lần nữa lại cho chúng ta biết các thượng tế và kinh sư tìm cách giết Chúa Giêsu. Satan, tên cám dỗ mà chúng ta đã được cảnh báo khi Chúa Giêsu  bắt đầu sứ vụ sẽ quay lại cám dỗ Người (4,13). Nó đang chuẩn bị cho cuộc tấn công quyết định sau cùng của nó bằng cách tuyển mộ Giuđa Iscariôt phản bội chủ mình, để hắn đi nói chuyện và bàn tính với các thượng tế và lãnh binh đền thờ (22,2-3). Tất cả bốn sách Tin mừng đều thuật lại bữa ăn cuối cùng mà Chúa Giêsu muốn chia sẻ với các môn đệ thân thiết của mình, nhưng chúng ta mắc nợ thánh Luca vì chỉ mình ngài cung cấp một số chi tiết cụ thể của bữa ăn cuối. Chẳng hạn, ngài cho chúng ta biết Chúa Giêsu bắt đầu việc cử hành với tâm tình như thế nào: Người thổ lộ cho các tông đồ biết Người khát khao mong mỏi được chia sẻ lễ Vượt Qua này với họ “trước khi chịu khổ hình” (22,15).

 

Thiết Lập Giao Ước Mới

Sau đó, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Dù Tin mừng Gioan không thuật lại biến cố này thì chúng ta vẫn có bốn trình thuật hơi khác nhau từ Marcô, Matthêu, Luca và thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô (1Cr 11,23-26). Trong mỗi trường hợp, chúng ta chỉ có một trình thuật tối thiểu, thậm chí chỉ là một cái khung rất mỏng về các sự kiện, có thể một phần lí do vì sự thận trọng trong ý nghĩa tôn giáo nào đó. Các học giả thường thống nhất cho rằng những khác biệt nhỏ trong mỗi trình thuật mà chúng ta có được, bắt nguồn từ những truyền thống phụng vụ của việc bẻ bánh, được phát triển độc lập trong các cộng đoàn khác nhau khi các sách Tin mừng được viết ra. So sánh bốn trình thuật, người ta  thấy có sự tương đồng giữa hai bản văn của Luca và Phaolô. Điều này có thể cho thấy mối liên hệ cá nhân giữa Luca và Phaolô: cả hai đều nhìn nhận rằng Chúa Giêsu chỉ cầm lấy chén rượu khi bữa ăn tối kết thúc, và cả hai đều muốn nhấn mạnh điều này là máu của Chúa Giêsu thuộc về Giao Ước Mới (1Cr 11,25; Lc 22,20), cũng như muốn ghi lại sự chỉ dẫn của Chúa Giêsu cho các Tông đồ để họ “làm điều này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,24 và một số bản thảo của Lc 22,19). Dường như đối với Luca, cũng như giao ước cũ giữa Thiên Chúa và Israel sắp được thay thế bằng một giao ước mới với Israel mới (Gr 31,31), thì việc cử hành tượng trưng hằng năm cuộc giải phóng Israel cũ là tiệc Vượt Qua, bây giờ cũng được thay thế bằng bí tích Thánh Thể, qua đó Chúa trao ban mình và máu Người cho các môn đệ và mời gọi họ tiếp nối việc cử hành trong hành vi tưởng niệm. Tuy nhiên, Luca (cũng như Marcô hay Phaolô) không thêm vào ý tưởng máu của Chúa Giêsu sẽ được đổ ra “cho muôn người được tha tội”. Câu này chỉ có trong trình thuật của Matthêu (26,28), nơi nó có thể phản ánh mối bận tâm đối với tội lỗi vốn xuất hiện trong Tin mừng này, và có lẽ trong cộng đồng Do Thái-Kitô giáo của ngài (x. Mt 1,21 tương phản với Lc 1,31 và 2,21). Giao Ước chứ không phải hi lễ là trọng tâm của Bữa Tiệc Li mà Luca ghi lại.

 

Khi bữa ăn tối kết thúc, Chúa Giêsu và các môn đệ nghỉ đêm như thường lệ tại Núi Ô Liu (22,39), nơi Chúa Giêsu, một lần nữa như trước đây, thường cầu nguyện riêng với Cha mình. Vào lúc này, Luca thu hút sự chú ý của chúng ta về nỗi sợ hãi ‘rất người’ của Chúa Giêsu khi Người cầu nguyện với Cha mình. Người thưa với Chúa Cha nếu Cha muốn thì xin cho chén đau khổ được cất xa khỏi Người. Nhưng cuối cùng Chúa Giêsu thưa lên rằng Người sẽ đón nhận bất cứ điều gì là ý muốn của Cha (22,41-44). Ở đây có một chi tiết đã được tranh luận rất nhiều, đó là trong sự căng thẳng tột cùng của nỗi đau đớn, Chúa đã toát ra những giọt mồ hôi giống như máu, đến nỗi một thiên thần hiện đến tăng sức cho Người (22,43-44). Nhiều thủ bản đã bỏ hai câu 43 và 44 hoặc đặt vào trong ngoặc kép bởi vì người ta cho rằng hình ảnh này có thể làm hạ giảm thần tính của Chúa. Giáo hội công giáo vẫn chấp nhận hai câu này trong quy điển chính thức và coi đó nằm trong bản văn Luca nguyên thủy. Về vấn đề này chúng ta có thể tham khảo Pablo T. Gadenz, The Gospel of Luke, tr. 365-66. Một điều khác cũng có thể làm ta thắc mắc là thực sự có hiện tượng mồ hôi lẫn với máu không. Tác giả Etienne H. Bovey trong L’Évangile de Luc (tr. 504) qua lời trích dẫn của một bác sĩ, cho chúng ta biết đây là hiện tượng rất hiếm xảy ra, người ta chỉ ghi nhận được có 26 trường hợp trong lịch sử y khoa, và gọi đó là “hematidrosis”. Bây giờ, sau quyết tâm đón nhận cái chết như ý Cha muốn, Chúa Giêsu trở lại với các môn đệ đang ngủ say và ngay sau đó, một đám đông ập đến, bao gồm các thượng tế, các lãnh binh đền thờ và các kì mục do Giuđa cầm đầu xông đến bắt Chúa (22,51). Luca cũng theo Marcô (14,47) đã ghi lại nỗ lực chống cự yếu đuối của các môn đệ, họ làm đứt tai phải một người nô lệ của thầy thượng tế, nhưng chỉ Luca cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã sờ vào tai người ấy mà chữa lành vết thương, và Người đã từ chối mọi nỗ lực của nhóm môn đệ muốn chặn lại sự truy bắt (22,47-51). Sau cùng Chúa được dẫn đến nhà của vị thượng tế (22,54).

 

Trình tự thời gian phức tạp của phiên tòa Do Thái xét xử Chúa Giêsu cùng những cáo buộc sai lạc bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo đưa ra chống lại Người, được Luca đơn giản hóa nhiều so với Marcô (Mc 14,53-64). Trước tiên, Luca muốn làm nổi bật việc Phêro chối Chúa ba lần, chính ông là người đã được Chúa báo trước trong Bữa Tiệc Li (22,31-34). Luca nói với chúng ta rằng vị lãnh đạo các Tông đồ đã được tha thứ gần như ngay lập tức khi Chúa Giêsu quay lại hướng ánh mắt nhìn riêng vào ông, ngay lúc đó ông nhớ lại lời Chúa dặn và đã bật khóc hết sức thảm thiết (22,55-62). Nhớ lại lời của Chúa Giêsu luôn dẫn đến một sự hiểu biết sâu xa hơn (x. 24,6-8; Cv 1,16). Chính Chúa Giêsu đã bị những kẻ bắt giữ chế giễu và đánh đập (22,63-65), và ngày hôm sau, Luca kể tiếp với chúng ta rằng Người đã được điệu ra trước Hội đồng Do Thái để chịu tra hỏi về việc Người có phải thật sự là Đấng Mêssia không. Khi Chúa Giêsu xác nhận rằng Người là Con Thiên Chúa, họ cảm thấy hả dạ, vì chiếu theo luật Do Thái Người đáng phải chết. Tuy nhiên, họ biết rằng chỉ có người Rôma mới có thẩm quyền áp dụng án tử hình cho tội nhân trong các lãnh thổ bị chiếm đóng (Ga 18,32), họ bèn đưa dẫn Chúa Giêsu đến nhà cầm quyền Rôma, thời đó là Philatô, để cáo buộc Người phạm trọng tội và phải bị xử tử (22,66-23,1).

 

Như đã nói trước đây, Tin Mừng Luca được viết để tuyên dương đức tin vào Chúa Giêsu cho các độc giả là dân ngoại và người Rôma. Và người ta có thể hiểu rằng câu chuyện gây chú ý nhiều nhất chính là phiên tòa Rôma xét xử Chúa Giêsu – khác biệt với Marcô, Matthêu và thậm chí cả Gioan. Nó cho thấy vị tổng trấn đã cố gắng không dưới ba lần chống lại cái cơ chế tôn giáo cứng ngắc của người Do Thái và muốn tha bổng cho bị cáo. Sự vô tội của Chúa Giêsu được Luca nhấn mạnh nhiều lần, và các cáo buộc liên quan đến chính trị mà toàn bộ hội đồng đưa ra để chống lại Người trước mặt Philatô rõ ràng chỉ là những mánh khóe tinh xảo, bao gồm cả lời kết tội Chúa tuyên bố mình là một vị vua (23,1-2). Tuy nhiên, chúng ta nhớ lại theo Luca, đám đông dân chúng vào Chúa nhật Lễ Lá đã dùng thánh vịnh để tôn vinh Chúa Giêsu như là “vị vua đến nhân danh Chúa” (19,38-39), thì giờ đây lại mau chóng ngả theo sự xúi giục của các nhà lãnh đạo tôn giáo đang háo hức tìm những chứng cớ chính trị để kết án Chúa Giêsu. Có lẽ chính thái độ trở ngược mau chóng này của quần chúng đã khơi dậy một chút thắc mắc cho lời buộc tội, mà vì đó chính Philatô đã gạn hỏi Chúa Giêsu có phải là vua người Do Thái không (23,3). Ông cũng nghe nói rằng Chúa Giêsu đã bắt đầu các hoạt động giảng dạy của mình tại Galilê, nên ông cho áp giải Người đi gặp Hêrôđê vốn trấn nhiệm miền Galilê (3,1), lúc ấy cũng đang có mặt ở Giêrusalem. Hêrôđê là người mà Chúa Giêsu có lần gọi là “con cáo già” (13,32). Trên thực tế, Hêrôđê và những thuộc hạ của ông không thể tìm ra được bằng chứng gì tố cáo Chúa Giêsu, và Người đã được trả về lại cho Philatô trong sự bẽ bàng tột độ cho những người chủ mưu (23,6-13).

 

Kế tiếp, tổng trấn Philatô cố gắng thuyết phục dân chúng thả Chúa Giêsu bằng cách tuyên bố Người vô tội, điều này đi ngược lại sự phản đối đang gia tăng mạnh mẽ (23,13-16). Ông cũng đưa ra một phương sách khác là đề nghị cho Người hưởng ân xá truyền thống được ban ra vào thời điểm lễ Vượt Qua cho một người bị kết án. Nhưng các thượng tế, các nhà lãnh đạo và dân chúng yêu cầu Philatô thả một tên tội phạm khác gọi là Baraba, và thay vào đó, Chúa Giêsu bị đóng đinh (23,13-21). Tuy nhiên, một lần nữa Philatô lên tiếng phản đối, ông ta cho rằng không thể tìm thấy lí do nào để quyết định bản án tử hình và, “cùng bất đắc dĩ” giờ đây ông lại đề nghị bị cáo chỉ phải chịu đánh đòn rồi được tha, theo thủ tục thông thường người Rôma vẫn làm. Tuy nhiên, một lần nữa, Philatô không thể thắng thế và cuối cùng ông đã đầu hàng trước áp lực dữ dội của dân chúng. Ông đưa ra phán quyết của mình theo yêu cầu của họ: phóng thích người tù họ xin tha và trao nộp Chúa Giêsu theo ý họ muốn (23,22-25).

 

Luca không nói gì đến việc đánh đòn Chúa Giêsu theo lệnh Philatô cũng như không thuật lại cảnh Người bị họ chế giễu bằng cách khoác một chiếc áo choàng màu tím và đội trên đầu một vương miện kết bằng cành gai, mà các sách Tin mừng khác đề cập lúc này (x. Mc 15,15-20; Mt 27,28-31). Ngài kín đáo đồng tình với nỗ lực của các tác giả tin mừng khác muốn làm dịu bớt sự đau khổ của Chúa Giêsu bằng cách mô tả sự kiện lính Rôma bắt một người ngoại quốc vô tội tên là Simôn Kyrênê vác đỡ thập giá cho Chúa (23,26. x. Mt 27,32; Mc 15,21). Ông Simôn này vác thập giá đỡ Chúa Giêsu đã thay cho một ông Simôn khác là Phêrô đã cao chạy xa bay khi Chúa bị bắt (22,31,34). Ông vác thập giá Chúa cũng nói lên tư thế của người môn đệ mà mỗi người được mời gọi: “Ai muốn theo tôi phải từ bỏ chính mình, vác thánh giá hằng ngày mà theo tôi” (9,23). Lúc này, như chúng ta vẫn thấy, Luca thường đề cập đến đàn ông và phụ nữ đi đôi với nhau, thì tiếp nối việc trình bày ông Simon Kyrênê lại xuất hiện những phụ nữ Giêrusalem. Giữa cảnh đám đông ồn ào lộn xộn đang bị khích động, một nhóm phụ nữ Giêrusalem lại có mặt giữa hiện trường tang tóc khóc than về số phận của Chúa Giêsu, nhưng Người đã đưa ra lời khuyên là họ hãy quan tâm hơn đến chính những gì sẽ xảy ra cho họ (23,27-31). Quả thật thành Giêrusalem của họ sẽ bị hủy diệt vào những ngày xét xử sắp đến (17,22; 19,43; 21,6,22). Một lần nữa, chỉ Luca trong bản văn tường thuật việc đóng đinh – chứ không có trong các tác giả khác – ghi lại rằng khi Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, vì muốn tha thứ cho kẻ thù của mình (x. 6,27-28), nên Người đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (23: 34), một lời cầu nguyện mà Luca sẽ sử dụng sau này như một mô thức để thuật lại việc các nhà lãnh đạo Do Thái xét xử một môn đệ của Chúa Giêsu tên là Stêphanô (Cv 7,60).

 

Bằng chứng nữa về việc Chúa Giêsu tiếp tục quan tâm đến người khác xuất hiện từ cuộc gặp gỡ hai tên tội phạm cùng bị đóng đinh bên cạnh Người. Một tên nhục mạ Chúa nhưng bị tên kia quở trách nói rằng ông này đã không làm gì sai trái để phải chịu một bản án oan ức như vậy. Sau đó, lại chỉ trong Luca, đã diễn ra cuộc trao đổi đầy cảm động giữa tên trộm lành và Chúa Giêsu. Anh này xin Chúa cho mình được ở trên thiên đàng với Người. Trong ánh sáng chói chang của buổi xế trưa ngày thứ Sáu hắt vào dòng chữ treo trên thập giá “Đây là Vua người Do Thái” (23,38), tên trộm xin Chúa, có thể là trong niềm tin chân thành nhưng cũng có thể chỉ là một chút lòng tốt vẫn còn tiềm đọng nơi hắn: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và Chúa Giêsu, Đấng cứu tinh nhân loại ở thời điểm sắp từ giã cõi trần, đã đáp lại từ sâu thẳm tình yêu của Người: “Tôi bảo thật anh (Amen), hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (23,39-43). Chúa Giêsu nói tiếng “Amen” cuối cùng trong sáu lần Người đã nói tiếng này (12,37; 18,17,29; 21,32; 23,43). Và lần cuối cùng này được dành cho một tử tội, cùng với lời hứa cho anh được hưởng phúc Nước Trời ngay lập tức. Chúng ta cũng cần nhớ, trong Luca việc thành toàn lời hứa không phải ở một thời gian xa xăm nào đó, mà là ngay “Hôm nay” (x. 2,11; 4,21; 19,9). Một chi tiết cuối cùng chúng ta có thể lưu ý trong trình thuật của Luca về cái chết của Chúa Giêsu là, thay vì trình bày Chúa cầu nguyện Thánh vịnh từ thập giá như trong Marcô và Matthêu để bày tỏ nỗi niềm như bị Thiên Chúa bỏ rơi (Tv 22,2) - mặc dù cũng cần lưu ý rằng Thánh vịnh này đã để lại một kết thúc vinh thắng (Tv 22,28-32) - thì Chúa Giêsu lại thinh lặng kết thúc cuộc đời của Người trong bình an và trong tâm tình hoàn toàn phó thác. Người nhẹ nhàng phó thác linh hồn vào tay Cha (23,46; Tv 31,6; Cv 7,59). Cuối cùng, chính viên đại đội trưởng Rôma, người đã nhìn thấy tất cả những gì diễn ra, chính ông được mời làm nhân chứng cuối cùng cho Chúa Giêsu, ông cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Người này đích thực là người công chính (dikaios)” (23,47). Trong Matthêu và Marcô người lính tuyên xưng Chúa là “Con Thiên Chúa” (Mt 27,54; Mc 15,39). Trong Tin mừng Luca từ δίκαιος, (díkaios) cũng được dùng để chỉ những người như Dacaria và Êlisabét (1,6), ông Simêôn (2,25), và ông Giuse Arimathia (23,50). Như vậy chỉ có Chúa Giêsu là “Đấng Công Chính” tuyệt đối (Cv 3,14; 7,52; 22,14) và sự xuất hiện của Người đã được các ngôn sứ loan báo (x. Gr 23,5; 33,15).

 

“Chúa Giêsu Đã Yêu Mến Tôi Và Hiến Mạng Vì Tôi” (Gl 2,20)

Khi Chúa Cha từ trời nhìn xuống người con bị đóng đinh của mình, Ngài thấy “Người được tuyển chọn” mà Ngài đã yêu cầu mọi người lắng nghe (9,35; Is 42,1), đó là một con người đã sống cuộc đời toàn hảo và trung thành trong việc hiến dâng trọn vẹn để thi hành sứ vụ mời gọi Israel trở về với Chúa và giới thiệu vương quyền của Chúa cho mọi người. Cuộc đời ấy không thể kết thúc ở cái chết, vì Luca đã biết trước và ngài cũng đã thuật lại cho chúng ta biết chính Chúa Giêsu đã nhiều lần báo trước Người sẽ sống lại, trước sự ngỡ ngàng của các môn đệ (9,22; 18,31-34). Luca viết tiếp, mọi người thân quen với Chúa, cả những phụ nữ đã đi theo Người từ Galilê “Đứng đàng xa chứng kiến tất cả những gì đã xảy ra” trong tâm trạng bàng hoàng xót xa, nhưng với lòng yêu mến thẳm sâu (23,49). Những phụ nữ này giữ một vai trò quan trọng trong trình thuật của Luca về việc mai táng Chúa (23,55-56) cũng như biến cố phục sinh (24,1-10). Họ đứng đàng xa nói lên thái độ khiêm nhường và tôn kính, gợi lại hình ảnh người thu thuế đứng cầu nguyện “từ đàng xa” để nài xin lòng thương xót Chúa (18,13).

 

Chúng ta được mời gọi bước theo cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu để cảm thông những đau khổ và tâm tư của Người trong những ngày cuối cùng Người sống trên dương thế. Không chỉ thấu cảm những sự sỉ nhục và tình trạng đau đớn mà Chúa phải chịu, chúng ta còn cảm mến một niềm trung kiên son sắt tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu và sự đỡ nâng mà Người kí thác nơi Chúa Cha, để từ đó mà Người vượt qua những đau khổ và thử thách nặng nề. Có nhiều tâm tình và suy nghĩ có thể hiện lên trong chúng ta mỗi khi chúng ta cầu nguyện mật thiết với Chúa bằng cách chiêm ngắm Người chịu tử nạn. Lúc đó, Luca đã cho chúng ta biết chính Chúa Giêsu lại tỏ lòng yêu thương và quan tâm đến chúng ta hơn chúng ta nghĩ về Người. Điều có thể khơi lên trong mỗi chúng ta, vượt lên trên tất cả những tâm tình khác, có lẽ là niềm xác tín đơn thành như Thánh Phaolô đã từng thốt lên: “Chúa Giêsu đã yêu tôi và đã hiến mình vì tôi” (Gl 2,20).

 

Trong linh thao, Thánh Ignatiô Loyôla mời gọi những người thực hành khi suy niệm về tội lỗi của mình, hãy quỳ gối xuống trước thánh giá và tự hỏi mình ba câu hỏi để tự vấn: Tôi đã làm gì cho Chúa Kitô? Tôi đang làm gì cho Chúa Kitô? Tôi phải làm gì cho Chúa Kitô? Đây là những câu hỏi “chát chúa” hướng chúng ta về một hành động đáp trả. Bởi vì tình yêu chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó thể hiện bằng việc làm cụ thể. Chúng ta có thể theo gợi ý của Thánh Ignatiô hãy lắng nghe tiếng nói của lòng mình thúc giục và thể hiện một hành vi yêu thương nào đó với Chúa. Cuối cùng chính ngài cũng nói lên tâm tình riêng của mình: “Mỗi khi chiêm ngắm hình tượng Chúa Kitô chịu đóng đinh thập giá, tôi cứ muốn lưu giữ mãi hình ảnh thánh thiện và sống động đó trong tâm trí tôi.”

 

Tham khảo: - Pablo T. Gadenz. The Gospel of Luke. CCSS. Baker Academic, 2018

  • Etienne H. Bovey. L’Évangile de Luc. Editions Ouverture, 2010

 

Lm. Giuse Ngô Quang Trung

 

Bài viết liên quan:

Xác sống lại nghĩa là sao?
Vua David - Vua David và Chúa Giêsu
Chúa Giêsu đã “chẳng giơ má bên trái ra”...
Những câu Kinh thánh hay bị hiểu sai và áp dụng bậy: Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị xét đoán (Mt 7,1)
Mầu Nhiệm Cứu Rỗi
Thánh Giuse vâng Lệnh Chúa, tôn kính và "che giấu" Ơn Đồng Trinh nơi Mẹ Maria
Phải chăng Maria đính hôn với Giuse vì "ước mơ" con của "hai người" sẽ là Đấng Cứu Thế?
Phải chăng Thiên Chúa không Toàn Năng nên con người mới phạm tội?
Tấm khăn liệm thành Turino
Lời hứa ghép tim
Page 1 of 2 (17 items)
Prev
[1]
2
Next
Bài viết mới
Thống kê Truy cập
Đang online: 828
Tất cả: 58,654,930