Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini

CUỘC ĐỜI MÔSÊ

Carlo Maria Martini[1]

Dẫn nhập

Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về “Cuộc đời Môsê”. Cuộc đời của ông là một hành trình đức tin, cuộc đời chúng ta cũng vậy. Hơn nữa, chiêm niệm cuộc đời Môsê sẽ giúp chúng ta chiêm niệm cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, của Giáo Hội và của mỗi người chúng ta.

Nhờ những bài suy niệm, chúng ta sẽ gặt hái thêm kiến thức phong phú về Kinh Thánh, đặc biệt là sách Xuất Hành, vì tác giả, Đức Hồng Y Martini, là một nhà chú giải kinh thánh lỗi lạc, mặc dù “Cuộc đời Môsê” được sắp xếp theo trình tự tuần Linh Thao theo thánh Inhaxiô.

                                                               Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

 

 

BÀI BA (PHẦN I)

MÔSÊ, PHARAÔ VÀ CHÚNG TA

Ai Cập bị tai ương: Xh ch. 5&7–11 (bỏ ch. 6)

 

“Và ĐỨC CHÚA đã làm như thế: một đám ruồi nhặng đen nghịt kéo vào cung điện Pha-ra-ô, vào nhà cửa bề tôi của vua và toàn cõi đất Ai-cập; cả đất ấy bị ruồi nhặng tàn phá. Pha-ra-ô liền triệu ông Mô-sê và ông A-ha-ron đến và bảo: "Các ngươi cứ việc đi tế lễ Thiên Chúa của các ngươi ngay trong đất này!" Ông Mô-sê trả lời: "Không nên làm như thế: những gì chúng tôi tế dâng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng tôi, đều ghê tởm đối với người Ai-cập. Vậy nếu chúng tôi tế dâng trước mắt người Ai-cập những gì là ghê tởm trước mắt họ, thì làm sao họ lại không ném đá chúng tôi được? Chúng tôi sẽ đi ba ngày đường để vào sa mạc tế lễ ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của chúng tôi, như Người phán với chúng tôi." Pha-ra-ô nói: "Ta, ta sẽ thả các ngươi ra, để các ngươi đi tế lễ ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của các ngươi, trong sa mạc; chỉ có điều là không được đi xa quá. Các ngươi hãy cầu cho ta." Ông Mô-sê thưa: "Khi ra khỏi nơi đây, tôi sẽ cầu ĐỨC CHÚA. Ngày mai, ruồi nhặng sẽ rời khỏi bệ hạ, khỏi bề tôi và dân của bệ hạ. Có điều là xin bệ hạ đừng phỉnh gạt hoài, không chịu thả dân ra để họ đi tế lễ ĐỨC CHÚA." Ông Mô-sê ra khỏi cung điện Pha-ra-ô và khẩn cầu ĐỨC CHÚA. ĐỨC CHÚA đã làm theo lời ông Mô-sê xin: Người khiến ruồi nhặng rời khỏi Pha-ra-ô, khỏi bề tôi và dân của vua, không sót lại con nào. Nhưng cả lần này nữa, lòng Pha-ra-ô vẫn nặng nề cứng cỏi; vua không thả cho dân đi” (Tai ương thứ tư, Xh 8,20-28).

           - Cách suy niệm phần này:

+ Không dừng lại và để ý đến ý nghĩa các tai ương.

+ Lưu ý đến hai nhân vật quan trọng: 1/ Pharaô là ai và ông làm gì?; 2/ Môsê là ai và ông làm gì?

Cũng lưu ý tới mối tương quan giữa Pharaô và Môsê. Mối tương quan đó có liên hệ gì đến kinh nghiệm Phục sinh của chúng ta: từ sự chết đến Phục sinh, từ một đời sống sai lạc, bất chính đến một đời sống theo Phúc Âm. Và cuối cùng, như phần thêm để nhấn mạnh: 3/ sự cứng lòng của Pharaô. 

+ Xin ơn thứ nhất: Khiêm tốn và can đảm nhìn thẳng vào sự thật: đó là cái tôi với những khuyết điểm, tội lỗi, không tránh né, không đeo mặt nạ để che dấu.

+ Xin ơn thứ hai: xin đừng cứng lòng như Pharaô, nhưng có trái tim bằng thịt để sẵn sàng đón nhận Lời Chúa và hoán cải.

1. Trong chúng ta, Pharaô là ai?

a. Pharaô muốn là một người chân thành.

- Trước hết, Pharaô là một người hào hiệp, thông minh, sáng suốt, khéo léo và xem ra có tinh thần đối thoại, dân chủ. Ông là một người lôi cuốn, một người “chơi đẹp”. Chúng ta có thể chứng minh điều này:

+ Trong các cuộc gặp gỡ, Pharaô tranh luận, đàm đạo, đối thoại, lắng nghe Môsê và Aaron.

+ Pharaô có tinh thần cởi mở: “Giavê, Chúa của Israel nói: hãy để dân Ta đi tễ lễ Ta trong sa mạc. –Giavê là ai để tôi nghe tiếng Ngài và để tôi cho Israel ra đi?” (Xh 5, 1-2) Pharaô có lý vì Giavê là Chúa của Israel, không phải Chúa của ông. Ông có nguyên tắc và niềm tin của mình.

+ Ông cố gắng tìm một thoả hiệp sau tai ương ruồi nhặng (Xh 8, 21), “Hãy tế lễ Thiên Chúa của các anh trong đất nước này”. Môsê và Aaron không đồng ý với lý do: tế lễ Giavê ở Ai Cập sẽ bị người Ai Cập ghê tởm và họ sẽ ném đá dân Israel. Pharaô nói: “Được, nhưng các anh không được đi quá xa. Cầu cho tôi nữa.” Pharaô đúng là một người rất khéo léo, giỏi chính trị.

Sau tai ương thứ tám (châu chấu, Xh 10, 8-11), Pharaô cho triệu Môsê và Aaron đến, cho phép họ đi tế lễ. Nhưng vua hỏi những ai sẽ đi, và chỉ cho phép đàn ông đi thôi. Rồi sau tai ương thứ chín, vua cho phép vợ con đi, nhưng đàn vật phải để lại (Xh 10,24).

Pharaô biết khéo léo thương thuyết. Ông tiến từ từ và rất hiểu người đối thoại, cũng như hoàn cảnh của họ. Ông biết họ sẽ đi luôn chứ không chỉ đi 3 ngày để tế lễ Giavê. Lúc đầu, ông nói: “không biết Giavê là ai”; sau những tai ương, ông lại nói: “cầu cho tôi với”. Sau tai ương mưa đá, ông còn nói: “Lần này, chính tôi có tội. Đức Chúa là Đấng công chính, còn ta và dân ta đều lầm lỗi.” (Xh 9, 27). Có thể nói, từng bước một, ông tiến tới sự thống hối, sự nhận biết tội lỗi mình. Sau tai ương châu chấu, ông nói: “Ta đắc tội với Đức Chúa, Thiên Chúa các ngươi, và với các ngươi. Vậy giờ đây, xin xá tội cho ta lần này nữa thôi và hãy khẩn nài Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, ít ra là đẩy xa ta cái tai hoạ chết người này.” (Xh 10, 26). Những lời này thật đẹp, làm chúng ta nhớ đến lời đứa con thứ hoang đàng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha…”

b. Nhưng lại vấp phải một số khó khăn.

Pharaô là người thông minh, sáng suốt, ông nhận ra điều cần làm. Tuy nhiên, ông vẫn bị bao vây bởi địa vị, đặc quyền của một Pharaô. Ông biết cần phải cho dân Israel ra đi, nhưng lại không quyết định dứt khoát vì điều đó làm ông mất quá nhiều quyền lợi. Xh 5,17: “Các ngươi lười biếng nên đòi đi tế lễ, hãy làm việc đi…”. Cho dân Do Thái đi, sẽ thiếu nhân công. Nền kinh tế Ai Cập sẽ gặp khó khăn. Sự lớn mạnh của đế quốc Ai Cập sẽ bị tổn thương.

Chúng ta tưởng tượng Pharaô cho vời Môsê và Aaron đến và nói với hai ông: “Đi vào sa mạc, các ngươi chắc chắn sẽ chết, còn ở lại đây, các ngươi có bánh ăn, có việc làm, sống an toàn, không lo lắng. Đàng khác, nếu để các ngươi đi, nền kinh tế Ai Cập sẽ gặp nguy cơ. Với trách nhiệm là vua Ai Cập, ta không thể để các ngươi đi được. Ai Cập có cơ cấu tổ chức xã hội của nó, ta phải bảo vệ.”

Tuy Pharaô nhận ra lỗi lầm của mình, nhận ra cần phải cho phép dân Israel đi tế lễ. Có thể nói ông có những bước tiến trong niềm tin. Nhưng cuối cùng, ông chối bỏ tất cả vì nếu làm như vậy, cả hệ thống xã hội, chính trị, kinh tế của Ai Cập sẽ sụp đổ. Cả hai bên đều chết: dân Israel chết trong sa mạc; dân Ai Cập chết vì nền kinh tế sa sút. Vì trách nhiệm nặng nề, ông không thể để dân Israel ra đi.

Rõ ràng, Pharaô là một người sáng suốt, khéo léo, thông minh; tuy nhiên, ông vẫn bị bao vây bởi những đặc quyền, địa vị, vai trò xã hội của ông. Có thể nói Pharaô đã bị điều kiện hoá.

Pharaô tượng trưng cho quyền lực. Quyền lực ai cũng ham muốn. Ai cũng thích ra lệnh. Pharaô là Pharaô, không thể bắt ông ta khiêm tốn. Ông có những đặc quyền mà ông không thể bỏ được.

* Sức mạnh của những góc tối vô thức[2]

Trong tôi, Pharaô là ai? Pharaô tượng trưng điều gì? Có thể nói Pharaô tượng trưng cho mọi hình thức làm chúng ta bị lệ thuộc, bị điều kiện hoá. Chúng ta bị cầm tù, bị vây hãm bởi mọi hoàn cảnh chúng ta sống.

- Điều kiện hoá của cá nhân (conditionnements)

Khoa phân tâm đã đưa ra ánh sáng những lệ thuộc, những điều kiện hoá này. Bình thường, chúng ta không thấy rõ, nhưng khi hoàn cảnh “thuận lợi” đến, những điều kiện hoá này sẽ bộc phát, thúc đẩy chúng ta có những lời nói, cử chỉ, hành động chúng ta chẳng bao giờ ngờ tới. (Đó là những góc tối vô thức do văn hoá, gia đình, lịch sử cá nhân, v.v. Điều kiện hoá là những góc tối vô thức, tiềm thức đó). Những góc tối vô thức có một sức mạnh âm thầm tác động trên chúng ta mà chúng ta không nhận ra. Đó là những “điểm đen”. Tuy chúng ta không nhận ra, nhưng người khác lại thấy. Nhiều khi chúng ta chẳng thấy mình có lỗi nào, nhưng nếu hỏi người khác, nhất là những người gần gũi, những người có trách nhiệm, những người dưới, họ sẽ nói cho chúng ta những khuyết điểm, những thiếu sót của chúng ta (*vấn đề: chúng ta có dám hỏi, có dám lắng nghe góp ý, phê bình, sửa sai hay không).

- Điều kiện hoá của tập thể.

Ngoài những góc tối, những điểm đen của cá nhân, còn có những góc tối, những điểm đen, những điều kiện hoá của một nhóm, một xã hội, làm chúng ta đưa ra những phán đoán, những nhận định phát xuất từ những thành kiến tập thể. Đó có thể là thành kiến từ ý thức hệ, từ những dư luận sẵn có, đến nỗi, có khi chúng ta quả quyết: “điều đó rõ ràng rồi, không cần tranh cãi nữa!”

Đó cũng là thảm kịch của đời sống con người, trong đời sống cá nhân cũng như xã hội, bởi vì con người luôn bị lệ thuộc, bị điều kiện hoá. Trong đó, quyền lực là một tiêu biểu: đặc quyền của nhóm người này, người kia; quyền lực của các nhóm trên thế giới (G8, Bin Laden, v.v.), hay trong một nước, trong Giáo Hội, trong Giáo phận, trong một dòng tu… Có thể nói quyền lực của Pharaô hiện diện khắp nơi. Vòi bạch tuộc của nó vươn tới mọi nơi, mọi người, cả trong chúng ta nữa.

Nếu muốn xác định rõ hơn Pharaô là ai trong chúng ta, hãy suy gẫm 12 hành động kiểu Pharaô mà thánh Marcô nói đến: “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế." (Mc 7,21-23). Trong chúng ta, Pharaô chính là những ý định xấu phát xuất không phải từ bên ngoài mà từ bên trong. Mỗi một hành động kiểu Pharaô Marcô kể ra, đều biểu lộ một thái độ tâm hồn của mỗi người chúng ta. Ai trong chúng ta cũng có khuynh hướng muốn cai trị, muốn sở hữu, muốn làm thầy người khác. Khuynh hướng đó biểu lộ qua những tính xấu nhỏ nhặt như ganh tị, nói xấu, v.v. Pharaô luôn phát triển trong ta nếu ta không nhận ra và cố gắng sửa đổi và hoán cải.

 

 

 

 


[1] Các bài suy niệm phỏng dịch từ “Vie de Moise, vie de Jesus et existence pascale”, Éd. St.-Augustin-St-Maurice, Suisse, 1994

[2] Truyện cổ của anh em nhà Grimm kể: “Ngày xưa có một chú bé, cứ mỗi buổi xế trưa, mẹ chú cho chú một ly sữa với bánh mì.  Chú bé thường ra ngồi ngoài sân để ăn. Nhưng một ngày kia, khi chú vừa bắt đầu ăn, thì có một con cóc từ chân tường nhảy ra, chúi đầu vào ly sữa và uống hết. Chú bé rất vui thích và kể từ đó, cứ mỗi lần ra ngồi ngoài sân mà con cóc chưa đến, chú vừa cầm ly sữa vừa hát gọi nó:

Cóc, cóc, cóc đến nhanh!

Đến ăn ngon thoả thích,

Cóc nhỏ bé dễ thương,

Đến ăn miếng bánh mì,

Đến uống ly sữa tươi!

Nghe thế, cóc chạy đến và ăn uống no nê thoả thích. Để cám ơn chú bé, cóc đem đến hàng tá đồ đẹp trong kho tàng của nó: những hòn đá óng ánh, những hạt ngọc và những thứ đồ chơi rực rỡ. Nhưng con cóc chỉ uống sữa và để bánh qua một bên. Đến một ngày, chú bé cầm cái muỗng, vừa đánh yêu trên đầu cóc vừa nói: “Chú cóc nhỏ, ăn bánh nữa đi chứ!” Mẹ chú đứng trong bếp, nghe con mình nói chuyện. Khi thấy chú bé lấy muỗng đánh trên đầu con cóc, bà đi ra, cầm khúc gỗ trong tay đập chết con cóc.

Từ đó, có một thay đổi nơi chú bé. Trong thời gian con cóc đến ăn với chú bé, chú lớn nhanh và mạnh khoẻ. Nhưng từ ngày cóc chết, dần dần đôi má chú không còn hồng hào. Chú bắt đầu gầy yếu. Rồi con chim cú bắt đầu hót ban đêm, con chim cổ đỏ gom các cành nhỏ và những ngọn lá hình các bó hoa dùng trong tang lễ và người ta đặt chú bé vào trong cỗ quan tài.”

Trong mỗi người chúng ta đều có một con cóc ở kẽ tường. Con cóc này là những góc tối của chúng ta, những khía cạnh đen tối mà chúng ta khó với tới được. Chúng làm chúng ta khó chịu và sợ hãi. Lúc nào chúng ta còn để một khoảng không gian trong lòng mình cho những góc tối này, như chúng ta để yên cho con cóc uống ly sữa, thì mọi sự đều tốt. Nhưng từ khi bà mẹ trong lòng chúng ta, tức cái TÔI, giết con cóc, chúng ta sẽ ốm yếu dần.  Chỉ một phần con người chúng ta tiếp tục sống. Vì sợ những góc tối, vì sợ những ao tù trì trệ núp trong phần sâu thẳm của tâm hồn, vì sợ những con cóc xấu xí ẩn nấp trong mình, nhiều người trong chúng ta ra tay giết con cóc của chúng ta mà lý ra, nó đáng được kết bạn với chúng ta: chúng ta không muốn có một con vật ghê tởm như vậy trong con người của mình. Nhưng khi làm như thế, chúng ta đã cắt đứt gốc rễ của mình. Chúng ta muốn tát cạn ao tù trong tâm hồn, nhưng tát cạn như vậy lại làm cho tâm hồn chúng ta khô cằn. Để tiến bước, để vượt qua được sự phân chia nội tâm, chúng ta cần hoà giải được phần bóng tối của mình: những khía cạnh mình không thích, những kẽ nứt có sẵn nơi bức tường lòng mình, từ đó, bản năng thú vật bung ra, khi chúng ta quan tâm đối xử với con cóc trong lòng chúng ta. (trích trong “Điều tôi muốn tôi không làm”, Anselme Grun, linh mục dòng Bênêđíctô, người Đức).

 

 

Bài viết liên quan:

Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Cuộc đời Môsê, Carlo Maria Martini
Page 1 of 20 (191 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
18
19
20
Next
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 809
Tất cả: 60,831,653