Ba Nhân đức Đối Thần trong đời sống kitô hữu

BA NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN

TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

 

I. ĐỨC TIN

“Hãy xây dựng đời mình

trên nền tảng đức tin rất thánh của anh em.” (Gd 1,20).

 

 

Chẳng ai có thể sống mà không có một niềm tin. Còn hơn cả niềm tin là chính đức tin. Đức tin cần thiết để đón nhận Lời Chúa; để nghe được tiếng Chúa; để sống thánh ý Chúa; để vững vàng trong những lúc gian nan; để sống hiệp thông; để thanh luyện và đổi mới bản thân, để được sự sống đời đời... Nếu chúng ta muốn thành tựu kế hoạch của Thiên Chúa trong cuộc đời mình, ta phải có một đức tin ngày càng lớn mạnh. Không phải đợi đến lúc khẩn thiết mới xây dựng và gia tăng đức tin, nhưng phải làm việc ấy ngay bây giờ, vì “lúc này là lúc thuận tiện; hôm nay là ngày cứu độ” (2Cr 6,2). Thiên Chúa ở ngay trong hiện tại, và cũng chính trong hiện tại mà chúng ta hiện hữu. Sự hiện hữu chỉ đích thực khi ta hiện diện với đức tin. Sẽ không có gì cho ngày mai, nếu đức tin không sáng lên từ hôm nay. Chỉ có đức tin mới làm đẹp lòng Thiên Chúa và làm đẹp cuộc đời ta (Dt 11,6). 

 

1. Thuật ngữ “Đức Tin”

Đức Tin (tín đức) trong Hán văn cho ta hiểu được ý chính như sau:

Đức (德): ơn ; Tin (tín) (信): đón nhận, nghe theo. Đức Tin: ơn đón nhận, vâng theo.

Thuật ngữ “Đức Tin” có gốc trong Hy vănpistis (πιστις): là tin tưởng với tinh thần phó thác vững vàng. Tùy theo nội dung văn bản, thuật ngữ “đức tin” trong Hy văn có thể hiểu là “trung tín”, “chung thủy” hoặc “trung kiên” (1 Tx 3,7; Tt 2,10). Trong Tân Ước có một từ cùng nguồn gốc với danh từ pistis (πιστις) thể hiện ý niệm về đức tin là động từ pisteuo (πιστευω). Động từ này có hai nghĩa cơ bản:

 

  • Nghĩa thứ nhất là “tin vào điều ai đó nói, chấp nhận một lời tuyên bố (mang tính tôn giáo) là đúng”[1].
  • Nghĩa thứ hai là “tin cậy người nào, khác với tin suông một điều gì”[2]. Nghĩa thứ hai này luôn được nhận ra qua việc sử dụng giới từ:

+ Giới từ εν (en) được sử dụng trong Phúc Âm Mc 1,15: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

+ Giới từ εις (eis) được dùng trong Cv 10,43: “...phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.

+ Thánh Gioan đề cập đến việc tin vào danh Chúa Giêsu: εις το ονομα (eis to onoma): “...những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Cấu trúc này có nghĩa đặc biệt đối với người Do Thái vốn xem danh tánh của một người là tương đương với người đó. Vì thế, tin vào danh Chúa Giêsu là đặt lòng tin cá nhân vào Ngài[3]. Như vậy, đức tin cần có cho sự cứu rỗi bao gồm “tin rằng”“tin vào”, tức là chấp nhận một sự thật và tin vào một ai đó. Nhất thiết cả hai phải đi đôi với nhau.

 

Luận giải về chức năng của đức tin trong mối tương quan với giao ước của Thiên Chúa, tác giả thư Do Thái viết: “Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1). Trong Hy văn: Hypostasis (Υποστασις) được dịch là “sự bảo đảm”, thường xuất hiện trong các văn bản giao dịch cổ viết trên giấy papyrus. Moulton và Milligan cũng diễn giải như thế: “Đức tin là hành động bảo chứng cho những gì đang được mong đợi”[4].

 

Chính vì vậy mà Giáo Lý Hội Thánh phân biệt giữa tin như một hành vi (actus),tin như là một nhân đức (virtus). Nhân đức là cái gì bền bỉ, đã ăn rễ sâu thành tập quán. Đức tin không chỉ là một hành vi, nhưng còn là một thái độ, một não trạng, một nếp sống. Tin không chỉ là kết quả của nỗ lực con người, nhưng trước tiên là một hồng ân của Thiên Chúa. Đó là những đặc tính của đức tin, một nhân đức đối thần (virtutes theologicae), nhờ đó chúng ta tin tưởng vào Chúa, chấp nhận tất cả những gì Ngài phán dạy và mạc khải... bởi vì Ngài là chân lý (GLCG 1814).

 

“Đức tin” không chỉ củng cố thêm cho “niềm tin” được vững chắc, bất chấp những thử thách, nhưng còn thay đổi toàn thể con người chúng ta: nó giúp ta nhìn mọi sự dưới ánh sáng của Chúa, đánh giá mọi vật dưới ánh sáng của Tin Mừng, không theo thị hiếu của thế gian. Đức tin còn giúp ta ngày càng gắn bó với Chúa hơn, khát mong được kết hiệp với Ngài, chiêm ngưỡng Ngài diện đối diện (x. GLCG 2609; 2709).

 

2. Ý nghĩa và nội dung của Đức Tin

 

“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1). Moulton và Milligan cũng diễn giải:“Đức tin là hành động bảo chứng cho những gì đang được mong đợi”[5].

 

Giáo Lý phân biệt giữa tin như một hành vi (actus),tin như là một nhân đức (virtus). Đức tin không chỉ là một hành vi, nhưng là một thái độ, một não trạng, một nếp sống. Tin không do nỗ lực con người, nhưng trước tiên là một hồng ân của Thiên Chúa. Đặc tính của đức tin là một nhân đức đối thần (virtutes theologicae), nhờ đó chúng ta tin vào Chúa, chấp nhận tất cả những gì Ngài phán dạy và mạc khải... vì Ngài là chân lý (GLCG 1814).

 

“Đức tin” không chỉ củng cố thêm cho “niềm tin” nhưng còn thay đổi toàn thể con người chúng ta: giúp ta nhìn và đánh giá mọi sự dưới ánh sáng của Tin Mừng. Đức tin còn giúp ta ngày càng gắn bó với Chúa hơn, khát mong được kết hiệp với Ngài, chiêm ngưỡng Ngài diện đối diện (x. GLCG 2609; 2709).

 

a. Tin là đáp lời Thiên Chúa

“Nếu mặc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa” (Augustinô). Ðức tin là lời đáp trả của con người toàn diện, bao gồm cả lý trí, ý chí, tình cảm, ước muốn và hành động, nghĩa là đặt trọn bản thân qui hướng về Ngài (x. DV 5). Vì thế, thánh Phaolô nói đến sự vâng phục trong đức tin (x. Rm 1,5;16, 26). Vì tin, Abraham đã vâng lời “ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 1,8), nhưng ông “vẫn trông cậy, mặc dầu không còn gì để trông cậy” (Rm 4,18).  Vì tin, Mẹ Maria đã xin vâng: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38). Mẹ cũng đã đi vào tận “đêm tối của đức tin”[6] để hiệp thông với khổ hình thập giá và tử nạn của Con.

 

b. Tin là ân ban và tự do đón nhận.

Đức tin là hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho các tín hữu (Mt 16,17), để họ gắn bó trọn vẹn với Thiên Chúa (fides qua) và đón nhận những chân lý do Ngài mạc khải (fides quae) trong Đức Giêsu Kitô (x. MK 5). Chính Ngài đi bước trước và trợ giúp từ bên trong: “Ngài thúc đẩy và qui hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt lý trí và làm cho mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tìm theo chân lý" (MK 5).

 

Đức tin là một hồng ân nhưng cũng là hành vi nhân linh, vì ân huệ Thiên Chúa không xóa đi khả năng hiểu biết và ý chí của con người, nhưng soi sáng, nâng đỡ và mời gọi cộng tác. Do đó, tin cũng chính là hành vi tự do, vì “Thiên Chúa tôn trọng phẩm giá con người do chính Ngài tạo nên, con người ấy phải được tự do và được hướng dẫn theo phán đoán của mình” (TD 11). Khi rao giảng, “Ðức Giêsu đã trợ giúp và chứng thực lời giảng của Ngài bằng phép lạ, để khơi dậy và củng cố lòng tin của thính giả, nhưng Ngài không hề tạo áp lực cưỡng ép họ” (TD 11).

 

d. Tin là hành động

 “Không phải bất cứ ai thưa: ‘Lạy Chúa! Lạy Chúa!’ là được vào Nước Trời cả đâu. Những chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy ...” (Mt,7,21). Thánh Gioan xác định: “Căn cứ vào điều này, chúng ta nhận ra rằng chúng ta biết Thiên Chúa, đó là chúng ta tuân giữ các điều răn của Người” (1Ga 2,3). Thánh Giacôbê gọi “Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,17).

 

Cha Charles de Foucauld cho rằng: một đức tin đích thực là đức tin chi phối mọi hành động; đức tin lột cái bộ mặt bề ngoài của thế giới ra, và cho thấy Thiên Chúa trong mọi sự; đức tin làm cho các lo âu, sợ hãi không còn ý nghĩa nữa; đức tin làm cho con người tiến bước trong đời với một vẻ bình tĩnh, một sự bằng an, một niềm vui sâu xa, như đứa bé trong tay mẹ hiền; đức tin cho ta một tâm thái thanh thoát đối với mọi sự khả giác nhờ thấy rõ tính hư vô của chúng. Đức tin còn cho ta nhận ra rằng: ngoài việc làm đẹp lòng Chúa, thì tất cả chỉ là hư khôn... Đức tin khiến ta dám hy sinh tất cả vì lòng yêu mến Chúa mà không do dự, không hổ thẹn, không sợ hãi, không chùn bước bao giờ[7].

 

e. Loan truyền Đức Tin

Ta đón nhận đức tin nên cũng phải loan truyền đức tin.“Đức tin được đào sâu khi nó được thông truyền”. (GP II). Tình yêu đối với Ðức Giêsu và tha nhân thúc giục chúng ta nói với người khác về Đức Tin của mình. Mỗi tín hữu là một mắc xích trong dây chuyền rộng lớn các tín hữu. Tôi không thể tin mà không có đức tin của người khác đỡ nâng, và với đức tin của tôi, tôi góp phần nâng đỡ đức tin của kẻ khác (GLCG 875). Vì thế, "Mọi tín hữu phải sẵn sàng tuyên xưng Ðức Kitô trước mặt mọi người” (x. LG 42; DH 14). Đó là niềm vui ơn cứu độ của chúng ta, vì “Ai nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng nhận người ấy trước mặt Cha Thầy...” (Mt 10,32-33).

 

3. Con đường Đức Tin

 

Đức tin là cuộc hành trình cam go, chúng ta dựa vào Tin Mừng để soi dẫn và làm lớn mạnh đức tin của mình.

 

a. Phải tin trước hết (Mt 9, 27-31)

Khi hai người mù xin Chúa Giêsu cứu chữa thì Ngài hỏi: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?”. Các thầy thuốc chữa lành rồi người ta mới tin, còn Chúa Giêsu đòi người ta tin rồi mới chữa lành. Ngài không muốn người ta đến với Ngài theo kiểu hên xui, được chăng hay chớ, nhưng phải tin để Ngài hành động. Đòi hỏi phải có đức tin, vì mọi hành động của Ngài đều nhằm nâng cao tâm hồn hơn là giải quyết tình trạng trước mắt. Đôi mắt được sáng ra không bằng tâm hồn được sáng lên. Sáng mắt chẳng có nghĩa gì khi tâm hồn vẫn chìm trong u tối.

 

Trong ánh sáng đức tin, ta không còn bị chận đứng ở bề mặt của hiện tượng hay hình tướng bên ngoài, nhưng có khả năng nhìn sâu vào bên trong để thấy thực chất của vấn đề, thực trạng của tâm hồn, thực tế của hoàn cảnh, thực tính của một lời nói, thực tâm của một thái độ hay hành vi. Trong ánh sáng đức tin, ta thấy thất bại, khổ đau là điều cần thiết cho sự khởi đầu ơn cứu độ, và mọi biến cố đều có ý nghĩa, mọi khoảng thời gian đều là ân ban và là cơ may. Nhờ vậy, ta không còn chủ quan, độc đoán hay thờ ơ lãnh đạm đối với cuộc đời. Tha nhân dù có thấp hèn đến đâu, ta vẫn thấy được những phản chiếu vẻ đẹp của Thiên Chúa. Quả thật: “Đức tin giúp chúng ta hiểu rằng đời sống của mỗi người là vô giá vì mỗi người trong chúng ta là hoa trái của tình yêu. Thiên Chúa yêu thương mọi người, kể cả những ai đã rời xa hay xem thường Ngài. Thiên Chúa vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi”[8].

 

b. Đức Tin khám phá (Mc 4, 35-41)

Trong trận cuồng phong dữ dội, từng đợt sóng lớn ập vào khiến thuyền đầy nước như muốn chìm. Trước cơn nguy khốn, các môn đệ cuống cuồng đánh thức Chúa Giêsu, xin Ngài cứu họ. Sau khi truyền cho gió yên biển lặng, Chúa Giêsu trách các môn đệ: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin”. Nói cách khác: Sóng gió làm gì được anh em khi Thầy đang ở với anh em.

 

Các môn đệ ngỡ ngàng: “Người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng phải tuân lệnh?”. Qua mỗi biến cố, ta lại khám phá ra Chúa Giêsu ngay bên mình. Thuyền đời Kitô hữu chẳng bao giờ êm ả, cho tới khi về tới bến quê bình an. Nhưng ta phải biết giữ cho lòng mình vững vàng giữa những nguy nan, không hoang mang, không thất vọng, dù Chúa vẫn ngủ yên. Vấn đề không phải là sự bất động của Chúa, mà là sự náo động của ta: ở bên Chúa mà niềm tin vẫn xa vời; sống bên Chúa mà lo âu vẫn không ngơi. Đời vẫn chơi vơi và có khi chới với, không phải vì không có Chúa, mà vì ta không nhận ra sự hiện diện của Chúa. Giông tố cuộc đời xem ra rất cần thiết để ta nhận diện con người mình: con người yếu đuối, mong manh, bất lực. Đó cũng là lúc ta khám phá hơn về sự sâu thẳm của Chúa, thấy Chúa lớn hơn tất cả, cần hơn tất cả, và cũng là tất cả.

 

c. Đức Tin cần trợ giúp (Lc 5, 17-26)

Tin Mừng kể lại việc người bại liệt tự bản thân không đến được với Đức Giêsu, mà phải nhờ đến sự trợ giúp nhiệt tình của bốn người khiêng. Những người này không thể vào nhà bằng cửa chính vì quá đông dân chúng, họ phải tìm con đường gay go hơn bằng cách leo lên mái nhà, dỡ ngói ra, thả bệnh nhân xuống.

 

Đức tin giúp ta nhận ra sự hoạt động của Chúa qua những người thân cận, nhất là những lúc ngặt nghèo không thể tự mình đứng vững và vươn lên. Không có sự trợ giúp nhiệt tình của họ, không biết đời ta sẽ ra sao? Phải nhận rằng, những cảm nhận thiêng liêng của ta thường qua những người khác: sự quan tâm và giúp đỡ của họ khiến ta thoát khỏi sự bế tắc; gương sáng và việc lành của họ là động lực giúp ta tin tưởng và vươn lên; nhìn thấy họ cầu nguyện và dấn thân khiến ta không thể sống thờ ơ nguội lạnh. Quả thực, nhờ anh chị em mà đời ta thêm tin yêu hy vọng. Cũng vậy, Chúa muốn qua ta, Ngài ban ơn cứu độ cho những người khác. Hãy làm cho mọi người điều gì đó trước tình cảnh khốn quẫn của họ, để khơi dậy một niềm tin và sức sống mới.

 

d. Đức Tin kiên trì (Ga 9, 1-41)

Chuyện người mù từ bẩm sinh được chữa lành nhờ gặp được Chúa Giêsu, nhưng vì là ngày Sabbat, nên bị coi là phạm luật. Nhóm Biệt phái đã từng chống đối, nay lại thêm tức tối về sự việc này. Họ đưa ra lý lẽ để kết án Đức Giêsu, và đòi anh mù phủ nhận Ngài, không được coi Ngài bởi Thiên Chúa mà đến.

 

Rất tiếc, hóm Biệt phái sáng mắt nhưng không sáng lòng; thấy sự việc nhưng không thấy sự thật; thấy dấu lạ mà không thấy Đấng làm dấu lạ. Lòng họ bị bó hẹp vì chỉ biết sống đạo dựa vào truyền thống và luật lệ. Hơn nữa còn vì tự ái, thành kiến, nhất là vì ghen ghét mà họ muốn suy diễn khác đi. Ai cũng cho mình thông sáng, nhưng có lúc người ta tự làm cho mình mù: khi không chấp nhận thực tế về bản thân và tha nhân; khi né tránh sự thật và không muốn nghe ai. Trên con đường đức tin, có khi ta giống như những Biệt phái, từ ánh sáng lại rơi vào bóng tối.

 

Tội nghiệp cho anh mù, vừa vui mừng tìm lại được ánh sáng thì thử thách lại ập tới. Đời sống anh bị nghi ngờ, xoi mói, tra hỏi và đe dọa. Dù anh ta có được cuộc sống mới, nhưng gia đình và những người thân lại phủ nhận, bỏ rơi, vì sợ liên lụy. Sự căng thẳng lên đến cực điểm khi anh phải đối đầu với quyền lực tôn giáo: là những người dạy dỗ, hướng dẫn. Họ mạt sát anh là người sinh ra trong tội, rồi khai trừ anh khỏi Hội đường. Đây là hình phạt nhục nhã đối với người Do Thái. Bị giáo quyền khai trừ, bị thân nhân chối từ, bị dân xa lánh, anh đau lòng, tủi hổ, cô đơn... Để giữ vững niềm tin, anh đành chấp nhận hành trình đơn độc. Để sống cho sự thật, anh chấp nhận bị loại trừ. Lúc khổ tâm nhất cũng là lúc Chúa Giêsu xuất hiện để nâng đỡ và khen thưởng đức tin kiên cường của anh. Anh gặp lại Ngài với niềm vui khôn tả.

 

Hành trình đức tin của ta cũng vậy, không thiếu những thử thách và bóng tối vây quanh, đòi ta phải kiên tâm. Đức tin Chúa ban cho chúng ta giống như viên ngọc quí, nhưng “ngọc bất trác bất thành khí”. Đức tin không được tinh luyện trong thử thách sẽ trở thành vô hiệu. Chúa vẫn đón đợi chúng ta trên từng chặng đường và từng biến cố lớn nhỏ, để làm sáng lên cuộc đời ta. Đức Bênêđictô XVI khẳng định: “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của sự lựa chọn đạo đức hoặc ý tưởng cao thượng, mà là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, đem lại cho đời sống mình một chân trời mới và một hướng đi quyết định” [9].

 

e. Đức Tin làm nên phép lạ (Lc 17, 5-10)

“Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu nầy: hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”. Chúa Giêsu không nói về lòng tin như một sức mạnh phù phép hay bùa chú để làm những chuyện dị thường. Nhưng Ngài nói đến đức tin như một động lực khiến ta dám nghĩ và dám làm những điều tốt lành mà bình thường không ai dám. Tin vào Chúa, ta còn làm những việc lớn hơn những việc Chúa đã làm (x. Ga 14,12).

 

Chính nhờ đức tin thúc đẩy mà biết bao Kitô hữu đã sống cách cao vượt, dám hy sinh đời mình cho hòa bình và chính nghĩa; dám từ bỏ mọi sự để dấn thân phục vụ tha nhân trong những trại cùi, trại mồ côi, trại khuyết tật, trại AIDS, v.v. Phép lạ của lòng tin là thế, biến cuộc sống này nên tốt đẹp, bình an và hạnh phúc cho nhau. Đức tin có một sức bật kỳ diệu. Nhà vật lý Archimède đã nói: “Nếu có thể tìm được một điểm tựa bên ngoài vũ trụ, thì với một đòn bẩy, người ta có thể nâng bổng cả vũ trụ lên”. Và văn hào Kierkegaard đã giải thích: “Điểm tựa ấy chính là đức tin”. Đức tin có thể biến đổi một xã hội mục nát, một thế giới đầy bất công, bạo lực, chia rẽ... thành một vương quốc của tình yêu huynh đệ, thành một “Trời Mới Đất Mới” trọn vẹn trong ngày cánh chung.

 

g. Đức Tin của lòng khiêm hạ (Mt 8, 5-11)

Có viên đại đội trưởng đến xin Chúa Giêsu đến nhà chữa bệnh cho đầy tớ mình. Ngài nhận lời đi ngay, nhưng ông lại thưa:“Tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi khỏi bệnh”. Lạ thay! Với tư cách là sĩ quan Rôma, ông có quyền lệnh cho lính đến mời Chúa Giêsu, thế nhưng ông lại thân hành đến với tâm tình và thái độ của kẻ thấp bé. Ông có quyền làm mà không làm, để rồi làm như một người không có quyền làm. Lòng tin nơi ông đã sinh một thái độ khiêm hạ đối với Chúa Giêsu, khiến ông đáng yêu quí hơn.

 

Lòng tin còn khiến ông nhìn Đức Giêsu hơn mọi lang y khác, không cần chữa bằng thuốc men mà bằng thần lực của Ngài. Chính nhờ lòng tin mà ông dám vượt qua hàng rào kỳ thị và khinh bỉ của người Do Thái để đến với Chúa Giêsu. Và vì biết mình là dân ngoại, bị coi là ô uế, nên ông không dám để Chúa Giêsu đến nhà mình. Chúa Giêsu đã hết lời khen ông: “Tôi không thấy một người Israel  nào có lòng tin như thế”. Chúa Giêsu đề cao lòng tin, vì lòng tin hoàn mỹ hóa con người, làm sáng lên các đức tính khác như: sự nhã nhặn, yêu thương, kính trọng, khiêm tốn, hiền hòa, xóa bỏ cách ngăn, hiềm khích, thành kiến...  Chính do lòng tin mà con người đạt tới ơn cứu độ.

 

h. Đức Tin bừng sáng (Mt 28, 8-15)

Sau khi được thiên thần báo tin Chúa Giêsu đã sống lại, các phụ nữ tuy sợ nhưng hớn hở vui mừng chạy về báo tin cho các môn đệ Chúa. Nhưng vui mừng hơn nữa khi Chúa Giêsu đón gặp các bà. Bao nhiêu buồn sầu thất vọng của các bà giờ đây biến thành niềm vui không thể tả được. Sự thật là các bà không dám nghĩ tới việc Chúa sống lại, và cũng đã quên Lời Chúa đã báo trước đó, có nhớ chăng cũng chẳng dám tin là như thế. Nỗi bi thương và tình cảm bi lụy đã lấn át lý trí và cả lòng tin. Đó cũng là kinh nghiệm về lòng tin của ta khi gặp thử thách trong đời. Có những lúc ta gần như tuyệt vọng, thấy rằng tin vào Chúa cũng chẳng tới đâu, nhất là khi đứng trước ngôi mộ buồn của đời mình. Tiếc thay, Chúa vẫn cho những dấu chỉ mà ta không thấy, vẫn khơi lên niềm hy vọng mà ta không hay, vẫn âm thầm đón đợi mà ta không biết, vẫn nhẹ nhàng nâng đỡ mà ta không nhận ra... Niềm tin vào Đức Kitô Phục Sinh đã trở thành thực tại cho các môn đồ xưa, thì nay cũng trở thành hiện tại cho chúng ta.

 

Cuối cùng, chúng ta nhìn ngắm Đức Maria, Mẹ của Đức Tin: một đức tin rất trí tuệ trước mọi sự việc không như ý; một đức tin rất vững vàng trong mọi biến cố đau thương; cũng là một đức tin rất khiêm nhu trước những mầu nhiệm của Thiên Chúa. Mẹ đã hóa giải mọi điều bí ẩn và rắc rối bằng đức tin. Tin vào Chúa nên Mẹ bình tâm giữa mọi thử thách; Tin vào Chúa nên Mẹ hoàn toàn hạnh phúc, và được gọi là Đấng Toàn Phúc. Mẹ có buồn sầu (stabat Mater), nhưng không buồn cho mình mà buồn cho số kiếp tội nhân; Mẹ có đau lòng, nhưng không đau vì mình, mà đau nỗi đau của Chúa Giêsu trước sự khép kín của con người.

 

Chúng ta hướng nhìn về Mẹ để sống đức tin vô giá mà mình đã lãnh nhận. Trong cuộc sống có những điều ta hiểu được, nhưng có biết bao điều ta không hiểu được, thậm chí có những cái vô lý, bất công và tàn bạo. Chắc chắn đức tin là thành trì vững chắc bảo vệ ta, và cũng là cánh cửa mở ra cho ta trước mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng thông ban chính mình Ngài cho ta trong Đức Kitô, và là Đấng mà ta sẽ cho ta được diễm phúc nên một với Người trong sự sống muôn đời.

 

Lm. Thái Nguyên

 


[1] Bultmann, Rudof. Theological Dictionary of the New Testament, vol. 6, p. 203.

[2] Abbot-Smith, G. A Manual Lexicon of the Greek New Testament (Edinburg: T&T. Clark, 1937), p. 361-62.

[3] Ladd, Theology of the New Testament, p. 271-72.

[4] Từ vựng Tân Ước Hy văn, 1963, p. 660.

[5] Từ vựng Tân Ước Hy văn, 1963, p. 660.

[6] Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 18.

[7] http://www.tinmung.net/THIENCHUA/SongDuoiConMatChua/Giatriductin.htm

[8] Sứ điệp chuẩn bị cho ngày Quốc Tế Giới Trẻ 2013.

[9] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est, số 11.

 

Bài viết liên quan:

Dung mạo Ngôn sứ Isaia trong Mùa Vọng
Chỉ có một số ít người phản đối việc lấy tên Giáo sĩ Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes đặt tên cho đường phố ở thành phố Đà Nẵng
Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy ban Giáo dân (BÀI 16)
Hồn ma và Giáo Hội Công giáo
Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 15)
Ba Nhân đức Đối Thần trong đời sống kitô hữu: Đức mến
Ba nhân đức đối thần trong đời sống kitô hữu: Đức Cậy
Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 14)
Bài huấn luyện hàng tháng của Ủy Ban Giáo dân (BÀI 13)
Tại sao ngày nay cầu nguyện lại quan trọng đến thế
Page 1 of 20 (191 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
18
19
20
Next
Lời Chúa mỗi ngày
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 1008
Tất cả: 60,857,638